Home

Loạt dự án lớn khởi công dịp 2/9: Vốn lớn có tạo chu kỳ tăng trưởng mới?

Loạt dự án lớn khởi công dịp 2/9: Vốn lớn có tạo chu kỳ tăng trưởng mới?

Các dự án hạ tầng quy mô lớn có thể mở đường cho dòng vốn, dân cư và những cực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, khi đầu tư công chỉ đáp ứng chưa đến 22% nhu cầu vốn của nền kinh tế, bài toán quan trọng là thu hút vốn tư nhân, hoàn thiện pháp lý và chuyển công trình thành dòng tiền, việc làm cùng hoạt động sản xuất thực.

Loạt dự án lớn khởi công dịp 2/9: Vốn lớn có tạo chu kỳ tăng trưởng mới?

Loạt dự án hạ tầng, giao thông và đô thị được khởi công dịp Quốc khánh 2/9 tạo thêm kỳ vọng về một chu kỳ phát triển mới. Những công trình quy mô lớn có thể mở ra quỹ đất, cải thiện kết nối và dẫn dòng vốn đến các khu vực trước đây còn hạn chế về hạ tầng.

Tuy nhiên, quy mô đầu tư chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả của dự án. Điều cần theo dõi là công trình sau khi hoàn thành sẽ tạo ra bao nhiêu việc làm, thu hút thêm bao nhiêu doanh nghiệp và giảm được những chi phí nào cho nền kinh tế.

Hạ tầng mở thêm không gian cho dòng vốn và dân cư

ThS Mã Xuân Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tư vấn Đầu tư Bất động sản TPHCM, nhận định giá trị nổi bật của các dự án hạ tầng hiện nay nằm ở khả năng định hình lại không gian phát triển.

Tại TPHCM, những dự án vừa khởi công cùng các công trình đang triển khai tạo điều kiện để thành phố chuyển dần từ mô hình đơn tâm sang đa cực.

Khi các tuyến giao thông mới hình thành, khu vực ngoài trung tâm có quỹ đất lớn và khả năng kết nối vùng sẽ có thêm điều kiện phát triển khu đô thị, khu sản xuất, logistics, thương mại và dịch vụ.

Dòng vốn và dân cư vì thế có thể dịch chuyển ra ngoài khu vực lõi đã quá tải. Quá trình này không chỉ giảm áp lực cho trung tâm mà còn mở ra cơ hội hình thành những cực tăng trưởng mới.

Xu hướng tương tự cũng có thể diễn ra tại các đô thị lớn khác. Khi hạ tầng liên vùng được hoàn thiện, khu vực vệ tinh có thể đảm nhận những chức năng mà đô thị lõi không còn đủ dư địa phát triển.

Một tuyến đường không thể tự tạo ra cực tăng trưởng

Giao thông là điều kiện quan trọng, nhưng không thể hoạt động tách rời quy hoạch đất đai, khu công nghiệp, logistics, nhà ở và dịch vụ.

Một tuyến đường mới có thể mở ra vùng đất phát triển, nhưng nếu phía sau không hình thành nhà máy, khu đô thị, trung tâm logistics hoặc hoạt động thương mại thì tác động kinh tế sẽ thấp hơn kỳ vọng.

Với dự án vượt qua ranh giới hành chính, khả năng phối hợp giữa các địa phương càng quan trọng. Một đoạn tuyến chậm giải phóng mặt bằng, thiếu nút giao hoặc không kết nối được với mạng lưới hiện hữu có thể làm suy giảm hiệu quả của toàn công trình.

Quy hoạch hai bên tuyến cũng cần được chuẩn bị đồng bộ. Nếu đất đai chỉ tăng giá nhưng không chuyển thành hoạt động sản xuất, nhà ở hoặc dịch vụ, hạ tầng dễ tạo ra kỳ vọng đầu cơ thay vì tăng trưởng thực.

Dự án cần kéo theo doanh nghiệp, ngành nghề và việc làm mới

PGS.TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần một lượng vốn rất lớn trong ít nhất 10 năm tới để chuyển sang công nghệ cao và dịch vụ chất lượng cao.

Theo ông, điều quan trọng không chỉ là số tiền được đầu tư vào công trình mà là giá trị được tạo ra sau khi công trình hoàn thành.

Một dự án chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi kéo theo doanh nghiệp mới, ngành nghề mới, việc làm mới và các dòng vốn tiếp theo. Nếu hoạt động kinh tế chỉ tập trung trong giai đoạn thi công, tác động tăng trưởng sẽ mang tính ngắn hạn.

Đây là điểm cần lưu ý khi TPHCM mở rộng không gian phát triển và tăng cường kết nối với Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu.

TPHCM có lợi thế về dịch vụ cao cấp, tài chính quốc tế và đổi mới sáng tạo. Bình Dương phát huy nền tảng công nghiệp công nghệ cao, còn Bà Rịa – Vũng Tàu có thế mạnh cảng biển nước sâu, logistics, kinh tế hàng hải và thương mại.

Nếu ba trung tâm được kết nối hiệu quả, các lợi thế có thể bổ trợ và tạo ra tác động lớn hơn nhiều so với việc phát triển riêng lẻ.

Việt Nam cần khoảng 1.400–1.450 tỷ USD vốn trong 5 năm

Theo ước tính của Công ty Chứng khoán Maybank, để hướng đến mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm trong giai đoạn 2026–2030, Việt Nam cần khoảng 1.400–1.450 tỷ USD vốn đầu tư.

Bình quân mỗi năm, nền kinh tế cần gần 290 tỷ USD, tương đương khoảng 7,54 triệu tỷ đồng.

Trong khi đó, vốn đầu tư công bình quân mỗi năm vào khoảng 1,6 triệu tỷ đồng, chưa đáp ứng 22% tổng nhu cầu. Khoảng cách này cho thấy ngân sách nhà nước không thể tự cung cấp toàn bộ nguồn lực cho hạ tầng, sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đầu tư công vì thế phù hợp với vai trò vốn mồi: xây dựng hạ tầng thiết yếu, tạo kết nối và giảm rủi ro ban đầu. Phần vốn còn lại cần được huy động từ doanh nghiệp tư nhân, FDI, thị trường trái phiếu, các quỹ đầu tư và định chế tài chính quốc tế.

TPHCM tìm kiếm cơ chế tài chính mới cho hạ tầng

TPHCM đang tính đến việc mở rộng hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế để huy động thêm nguồn lực.

Tại cuộc làm việc với đại diện Tổ chức Tài chính Quốc tế, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh cho biết thành phố kỳ vọng tăng cường hợp tác trong phát triển hạ tầng, tài chính xanh, giao thông thông minh, kinh tế biển và xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế.

Riêng lĩnh vực đường sắt đô thị, thành phố đặt mục tiêu đạt khoảng 200km metro vào năm 2030, 462km vào năm 2035 và 700km với 19 tuyến vào năm 2045.

Để hiện thực hóa kế hoạch này, TPHCM mong muốn xây dựng những cơ chế kết hợp đầu tư công, trái phiếu địa phương và vốn tư nhân; đồng thời kết nối với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.

Quy mô vốn rất lớn khiến các phương thức huy động truyền thống khó đáp ứng. Thành phố cần những mô hình có thể chia sẻ rủi ro, tạo dòng tiền và bảo đảm khả năng hoàn vốn trong dài hạn.

PPP có thể mở rộng nguồn lực ngoài ngân sách

Mô hình hợp tác công – tư tiếp tục được xem là một hướng quan trọng để huy động nguồn lực xã hội.

Ông Đặng Minh Trường, Chủ tịch HĐQT Sun Group, dẫn kinh nghiệm tại Singapore và Hàn Quốc, nơi khu vực tư nhân tham gia nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn khi có cơ chế phù hợp.

Tại Việt Nam, Nghị quyết 68-NQ/TW được kỳ vọng tạo thêm niềm tin và không gian cho kinh tế tư nhân tham gia sâu vào những công trình hạ tầng chiến lược.

Dù vậy, PPP chỉ phát huy hiệu quả khi trách nhiệm, cơ chế chia sẻ rủi ro, phương án thu hồi vốn và quyền lợi của các bên được xác định rõ. Nếu hợp đồng thiếu minh bạch hoặc doanh thu dự báo không sát thực tế, rủi ro có thể chuyển trở lại ngân sách hoặc người sử dụng.

Có vốn chưa đồng nghĩa nền kinh tế hấp thụ được vốn

TS Huỳnh Phước Nghĩa, Đại học Kinh tế TPHCM, cho rằng nhu cầu vốn ngày càng lớn trong khi ngân sách và tín dụng ngân hàng không thể đáp ứng toàn bộ.

Nguồn lực cần được mở rộng từ đầu tư công, trái phiếu, đất đai, FDI, vốn doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hoạt động M&A và dòng vốn quốc tế.

Tuy nhiên, mở thêm kênh huy động mới chỉ là điều kiện ban đầu. Dòng vốn cần những dự án đủ tốt để đi vào nền kinh tế.

Nhà đầu tư quan tâm đến pháp lý, mô hình khai thác, khả năng tạo dòng tiền, lợi nhuận dự kiến và sự ổn định của chính sách. Nếu những điều kiện này chưa rõ, lời kêu gọi đầu tư khó chuyển thành vốn thực tế.

Trung tâm Tài chính Quốc tế có thể giúp TPHCM kết nối với các nguồn vốn bên ngoài, nhưng nhà đầu tư quốc tế vẫn sẽ đánh giá chất lượng doanh nghiệp, tính minh bạch và khả năng vận hành của từng dự án.

Đất đai cần tạo dòng tiền thay vì khoản thu một lần

Nguồn lực đất đai có vai trò lớn trong phát triển hạ tầng và đô thị. Tuy nhiên, nếu chỉ bán hoặc khai thác đất để tạo một khoản thu ngân sách một lần, nguồn lực này sẽ nhanh chóng bị sử dụng hết.

Khi đất đai được kết hợp với hạ tầng để hình thành khu công nghiệp, khu đô thị, trung tâm logistics hoặc thương mại – dịch vụ, giá trị có thể chuyển thành dòng tiền, việc làm và nguồn thu ổn định.

Vòng quay vốn khi đó được hình thành theo trình tự: đầu tư hạ tầng, thu hút doanh nghiệp, tạo hoạt động kinh tế, phát sinh nguồn thu và tiếp tục đầu tư cho giai đoạn sau.

Đây là điểm khác biệt giữa việc tăng giá đất nhờ kỳ vọng và việc tạo ra giá trị kinh tế thực từ đất đai.

Hạ tầng có thể lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế

Ông Neil MacGregor, CEO Savills Vietnam, nhận định tác động của hạ tầng có thể lan sang bất động sản, logistics, bán lẻ, khách sạn, tài chính và các dịch vụ chuyên môn.

Khi kết nối với sân bay, cảng biển và đường cao tốc được cải thiện, thời gian di chuyển cùng chi phí vận hành có thể giảm. Doanh nghiệp có thêm lựa chọn về địa điểm sản xuất, người dân có thêm nơi ở và thị trường dịch vụ được mở rộng.

TPHCM ngày càng được nhìn nhận là trung tâm của một hệ sinh thái kinh tế rộng hơn tại phía Nam. Hạ tầng mới có thể đưa dòng vốn đến các khu vực trước đây còn hạn chế về kết nối.

Tuy nhiên, để tác động bền vững, dự án cần có pháp lý rõ ràng, đáp ứng nhu cầu thực và bảo đảm chất lượng vận hành sau khi hoàn thành.

Pháp lý quyết định khả năng hấp thụ vốn của bất động sản

Bất động sản có nhu cầu vốn lớn và thời gian đầu tư dài. Vì vậy, tiến độ pháp lý tác động trực tiếp đến chi phí vốn và khả năng triển khai dự án.

Bà Nguyễn Thị Thanh Hương, Phó Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam, cho rằng thị trường cần được nhìn rộng hơn câu chuyện nguồn cung và tín dụng. Quy hoạch, pháp lý, chính sách đất đai và các kênh tài chính phải vận hành ổn định.

Khi thủ tục kéo dài, đất đai chưa thể chuyển thành dự án, còn vốn của doanh nghiệp, ngân hàng và nhà đầu tư bị giữ lại. Chi phí tài chính tăng theo thời gian và cuối cùng có thể được phản ánh vào giá sản phẩm.

Rút ngắn thủ tục, tăng tính minh bạch và thống nhất cách thực hiện là điều kiện để vốn được đưa vào dự án nhanh hơn, thay vì nằm chờ trong hệ thống.

Góc nhìn Review Bất Động Sản: Khởi công chưa phải điểm bắt đầu của tăng trưởng

Một công trình có thể được khởi công đúng tiến độ nhưng vẫn chưa chắc tạo ra một cực tăng trưởng. Điều quan trọng là những hoạt động kinh tế xuất hiện phía sau công trình đó.

Với giao thông, cần đo thời gian và chi phí logistics được tiết giảm. Với khu đô thị, cần nhìn vào dân cư, việc làm và hoạt động thương mại. Với bất động sản, phải đánh giá nhu cầu sử dụng, khả năng khai thác và dòng tiền thực tế.

Đầu tư công có thể mở đường, nhưng khu vực tư nhân mới là lực lượng lấp đầy không gian phát triển bằng nhà máy, khu đô thị, logistics và dịch vụ. Muốn thu hút nguồn lực này, dự án cần pháp lý rõ ràng và khả năng sinh lời có thể dự báo.

Một chu kỳ tăng trưởng mới chỉ hình thành khi vốn được chuyển thành tài sản hoạt động, việc làm và năng suất. Quy mô đầu tư tạo sự chú ý; khả năng hấp thụ và vận hành mới quyết định giá trị cuối cùng.

Liên hệ Giới thiệu So sánh CĐT Kinh nghiệm Zalo
Tính lãi vay